14:16 17/12/2011
Cỡ chữ

3. NHỮNG THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI

3.1. GDP

Đà Nẵng là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong cả nước, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1997 - 2010 (theo giá cố định 1994) đạt 11,30%/năm so với mức bình quân 7,27%/năm của cả nước. Qua các năm, giá trị sản xuất công nghiệp, nông - lâm - thủy sản, tổng mức bán hàng hóa và dịch vụ xã hội đều có xu hướng tăng lên. Điều quan trọng là mức tăng trưởng này khá phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.

Bảng 1: Tăng trưởng GDP của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2010

ĐVT: tỷ đồng

Chỉ tiêu

1997

2000

2005

2010

Tốc độ tăng bình quân 1997 - 2010

(%/năm)

GDP (giá 1994)

2.589,8

3.390,2

6.236,3

10.275,5

11.30

Trong đó:

 

 

 

 

 

+ Nông-lâm-thủy sản

252,2

276,3

373,5

308,1

1.89

+ Công nghiệp-Xây dựng

928,1

1.347,9

3.207,4

4.043,1

12.89

+ Dịch vụ

1.409,6

1.766,0

2.655,4

5.924,2

11.58

Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng

Thu nhập bình quân đầu người của Đà Nẵng những năm qua được nâng lên rõ rệt, năm sau cao hơn năm trước. Nếu GDP bình quân đầu người tính theo giá hiện hành năm 1997 là 4,8 triệu/người, đến năm 2000 là 6,9 triệu/người, năm 2005 là 14,8 triệu/người thì năm 2010 đã đạt mức 35,8 triệu/người/năm (tăng gấp 7,4 lần so với năm 1997).

3.2. Tổng vốn thu hút đầu tư

Tổng vốn đầu tư phát triển của Đà Nẵng liên tục tăng nhanh trong giai đoạn
1997 - 2010. Năm 1997, nguồn vốn thu hút được vào khoảng 1.088,2 tỷ đồng; đến năm 2010 nguồn vốn đầu tư phát triển đã lên đến 18.936,0 tỷ. Trong đó tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1997 - 2000 là 29,42%; giai đoạn 2001 - 2005 là 30,49% và giai đoạn 2006-2010 là 19,02%.

Cơ cấu vốn đầu tư phát triển có sự chuyển dịch theo hướng chuyển cơ cấu kinh tế từ “công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp” sang cơ cấu “dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp”. Về cơ cấu nguồn vốn, nguồn vốn đầu tư trong nước giai đoạn 1997 - 2010 đạt gần 88,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 87,8% tổng nguồn vốn đầu tư phát triển;. Nguồn vốn ngoài nước đạt trên 10 nghìn tỷ đồng, đạt tốc độ tăng 16,0%/năm, chủ yếu từ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và viện trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ (NGO).

Ảnh 5: Cầu Thuận Phước lên đèn

3.3. Kim ngạch xuất nhập khẩu

3.3.1. Xuất khẩu

Quy mô kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng liên tục tăng trong giai đoạn 1997 - 2010 tuy tốc độ tăng có biến động. Theo số liệu của Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 1997 đạt 154,6 triệu USD, đến năm 2010 tăng lên đến 634,4 triệu USD, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn là 13,1%.

Xuất khẩu đóng góp quan trọng vào giá trị của GDP của thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, vai trò của xuất khẩu đối với GDP thành phố ngày càng giảm đi thể hiện qua tỷ trọng GDP xuất khẩu/GDP thực tế ngày có xu hướng giảm, với tỷ trọng xuất khẩu thấp nhất đạt 37,57% vào năm 2009.

Cơ cấu xuất khẩu phân theo nhóm hàng chuyển dịch theo hướng tăng giá trị các mặt hàng có hàm lượng công nghệ, chế biến cao như điện tử, cơ khí, vật liệu xây dựng, dệt may, da giày..., giảm xuất khẩu hàng thô, sơ chế, tuy nhiên xu hướng này vẫn còn chậm. Dệt may và thủy sản vẫn là hai nhóm hàng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu hàng xuất khẩu. Mặt dù quy mô xuất khẩu của hai mặt hàng này tăng nhưng danh mục mặt hàng xuất khẩu mở rộng hơn đã khiến cho tỷ trọng của các mặt hàng này giảm trong cơ cấu hàng xuất khẩu.

3.3.2. Nhập khẩu

Kim ngạch nhập khẩu liên tục tăng qua các năm, từ 200,4 triệu USD (1997) tăng lên 751,3  triệu USD (2010); tăng gấp 3,75 lần và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9,56%/năm. 

Tương tự như xuất khẩu, tỷ trọng nhập khẩu của thành phố so với cả nước đang có xu hướng ngày càng giảm đi. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu chuyển dịch theo hướng tăng giá trị hàng nhập khẩu là nguyên vật liệu may mặc, hóa chất, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, và giảm chất dẻo và sắt, thép. Trong xu hướng chung của quốc gia là nhập khẩu phục vụ tiêu dùng vượt mức, tỷ trọng nhập khẩu máy móc thiết bị của Đà Nẵng tăng từ 18,89% năm 2004 lên đến 53,64% năm 2010 là một dấu hiệu tốt. Tuy nhiên, công nghệ đi kèm của máy móc thiết bị nhập khẩu cũng cần phải được đánh giá.

3.4. Lượng khách du lịch

Lượng khách du lịch đến Đà Nẵng có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây. Tốc độ tăng lượng khách bình quân giai đoạn 2001-2010 là 15,4%/năm, trong đó khách du lịch quốc tế là 7,4%/năm và khách du lịch nội địa là 19%/năm. Đến năm 2010, tổng lượt khách đến Đà Nẵng là 1.770.000 người, trong đó khách quốc tế là 370.000 người (20,9%) và khách nội địa là 1.400.000 người (79,1%).

Ảnh 6. Bãi biển Mỹ Khê

Trong xu hướng tăng trưởng chung của tổng lượng du khách đến Đà Nẵng, lượng du khách quốc tế cũng có những tín hiệu tích cực. Trong giai đoạn 2001 - 2008, tốc độ tăng trưởng bình quân của khách quốc tế đến Đà Nẵng đạt 11,6%. Năm 2009 lượng du khách quốc tế đến Đà Nẵng chỉ đạt 300.000 lượt khách, giảm 28,6% so với năm 2008. Lý giải cho điều này là do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào cuối năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 cộng với dịch cúm A/H1N1 nên ngành du lịch Đà Nẵng đã bị ảnh hưởng chung với ngành du lịch Việt Nam và thế giới. Đến năm 2010, khi nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng dần phục hồi thì lượng du khách quốc tế lại tăng lên đáng kể. Lượng du khách quốc tế đến Đà Nẵng năm 2010 đã tăng 23,3% so với năm 2009 (đạt 370.000 lượt khách).

Khách du lịch nội địa đến thành phố Đà Nẵng luôn chiếm số lượng lớn và có xu hướng tăng dần tỷ trọng trong tổng lượng du khách đến với Đà Nẵng. Năm 2001, lượng khách du lịch nội địa đến Đà Nẵng là 291.462 lượt người, chiếm tỷ trọng 59,96%. Tỷ trọng này đã tăng lên 65,45% vào năm 2005 và đến năm 2010, con số này đã tăng gần 79,1% trong tổng lượng du khách đến với Đà Nẵng. Sự tăng trưởng mạnh của lượng du khách nội địa đã phần nào cho thấy được sự thành công của thành phố trong việc khai thác thị trường này trong những năm vừa qua.

3.5. Khu kinh tế, khu công nghiệp

Đà Nẵng hiện có 6 khu công nghiệp (KCN) đã đi vào hoạt động với tổng diện tích là 1.138,68 ha bao gồm:

- KCN Hòa Khánh.

- KCN Hòa Khánh mở rộng.

- KCN Đà Nẵng.

- KCN Hòa Cầm.

- KCN Liên Chiểu.

- KCN Dịch vụ thủy sản Thọ Quang.

Ngoài ra, nhằm thu hút các nguồn công nghệ cao từ trong và ngoài nước, thành phố đã quyết định thành lập Khu công nghệ cao Đà Nẵng rộng khoảng 1.010 ha nằm trên địa phận xã Hòa Liên và Khu công nghệ thông tin với diện tích khoảng 131 ha nằm trên địa phận xã Hòa Nhơn.

Từ những định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, các KCN trên địa bàn tập trung thu hút các dự án công nghiệp thuộc các ngành nghề, các ngành nghề có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn: điện tử, công nghệ thông tin, công nghiệp xử lý môi trường, vật liệu mới, cơ khí chính xác, thiết bị đo lường chính xác, trang thiết bị y tế, văn phòng, thông tin liên lạc, các ngành công nghiệp sạch không gây ô nhiễm môi trường.

3.6. Các ngành kinh tế mũi nhọn

Từ những thế mạnh và hiện trạng phát triển kinh tế của Đà Nẵng trong những năm qua, có thể nhận thấy lĩnh vực dịch vụ sẽ trở thành lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế của thành phố. Bên cạnh đó, theo tinh thần Nghị quyết 33/NQ-TW của Bộ Chính trị về xây dựng Đà Nẵng trong thời kỳ CNH - HĐH, thành phố đang tập trung phát triển công nghiệp có chọn lọc, tập trung vào những ngành hàng và sản phẩm sử dụng công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, hàm lượng chất xám cao.

3.6.1. Du lịch

Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của thành phố; xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm du lịch, gắn với tổng thể du lịch Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam - Tây Nguyên, trong mối quan hệ quốc gia và khu vực Đông Nam Á. Để đạt được mục tiêu đó, Đà Nẵng tiếp tục đầu tư xây dựng, phát triển hạ tầng du lịch một cách đồng bộ, kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước, hình thành các trung tâm du lịch biển quốc tế; phát triển các dịch vụ giải trí, ưu tiên giải trí cao cấp như: golf, thể thao giải trí trên biển (thuyền buồm, lướt sóng, lặn biển; xây dựng các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tắm khoáng nóng, du lịch văn hóa, lịch sử, tham quan hội chợ, triển lãm.. và một số khu vực vui chơi có thưởng dành riêng cho người nước ngoài).

3.6.2. Dịch vụ

Với mục tiêu xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm thương mại, du lịch, tài chính - ngân hàng và dịch vụ lớn của Việt Nam, Đà Nẵng đang và sẽ phát triển các lĩnh vực dịch vụ mũi nhọn bao gồm: thương mại, nhà hàng, khách sạn, vận tải kho bãi, giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế chất lượng cao, thông tin tuyền thông, tài chính, tín dụng, bảo hiểm, kinh doanh tài sản và tư vấn. Đặc biệt, chú trọng và những lĩnh vực thành phố có thế mạnh, đem lại hiệu quả kinh tế cao, trên cơ sở khai thác các tiềm năng của thành phố nhằm đáp ứng nhu cầu của địa phương, cả nước và khu vực.

3.6.3. Công nghiệp

Tập trung đẩy mạnh xuất khẩu theo hướng xuất khẩu công nghệ cao, xuất khẩu công nghiệp phụ trợ và xuất khẩu công nghiệp chế biến; trong đó tập trung phát triển một số ngày công nghiệp chủ yếu: công nghiệp điện - điện tử, công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, thực phẩm, công nghiệp cơ khí, công nghiệp dịch vụ hàng hải, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất giày da, may mặc…

3.7. Hợp tác đầu tư

Đến nay, thành phố đã có quan hệ đối ngoại với hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Số lượng đoàn khách quốc tế đến thăm, làm việc, tìm hiểu cơ hội đầu tư kinh doanh cũng như số lượng đoàn thành phố cử đi để thực hiện xúc tiến thương mại, đầu tư, kinh doanh và học tập… liên tục gia tăng trong giai đoạn 1997 - 2010 liên tục gia tăng. Thành phố cũng thành lập Văn phòng đại diện tại Tokyo, tổ chức nhiều sự kiện quan trọng tầm quốc gia, quốc tế từ đó tạo cơ hội tăng cường các hợp tác, quảng bá, khẳng định vị trí, vai trò của thành phố trong khu vực và thế giới.

3.8. Quy hoạch phát triển KT-XH thành phố Đà Nẵng đến năm 2020

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng đến năm 2020 đặt ra mục tiêu phát triển tổng quát là “Tiếp tục xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội của miền Trung với vai trò là trung tâm dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về vận tải và trung chuyển hàng hóa trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính viễn thông và tài chính - ngân hàng; một trong những trung tâm y tế, văn hóa - thể thao, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ cao của miền Trung; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của khu vực miền Trung và cả nước”.

 Để đạt được mục tiêu đề ra, thành phố đã xác định một số nhiệm vụ trọng tâm và tập trung phát triển các khâu đột phá như sau:

- Tập trung các khâu đột phá phát triển kinh tế về vùng biển, ven biển, đảo Đà Nẵng với các ngành: kinh tế hàng hải, du lịch và dịch vụ biển, ven biển, xây dựng các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất ven biển gắn với các khu đô thị ven biển.

- Tiếp tục xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, đạt tiêu chuẩn của một thành phố hiện đại. Tập trung đầu tư vào việc nâng cấp cảng Liên Chiểu, hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển; nâng cấp sân bay quốc tế Đà Nẵng…

- Xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm thương mại, du lịch, tài chính - ngân hàng và dịch vụ lớn của Việt Nam; trong đó phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của thành phố; tập trung đẩy mạnh xuất khẩu theo hướng xuất khẩu công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ và công nghiệp chế biến; đẩy mạnh phát triển các dịch vụ đáp ứng nhu cầu đời sống và dịch vụ chất lượng cao.

- Xây dựng và phát triển công nghệ thông tin trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và là một trong ba trung tâm công nghệ hàng đầu của quốc gia; xây dựng và hoàn thiện Làng Đại học Đà Nẵng, trường đại học quốc tế phục vụ đào tạo nhân lực chất lượng cao; phát triển hệ thống y tế, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, các trung tâm y tế chuyên sâu…

Tài liệu tham khảo

1. Nghị quyết 33-NQ/TW năm 2003 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về Xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước.

2. Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng, Niên giám thống kê (các năm 1997 - 2010)

3. http://www.danangcity.gov.vn

4. http://cst.danang.gov.vn/

5. Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng, Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng đến năm 2020.

6. Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2011, 2011.

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
Tin đọc nhiều
9.818 lượt xem - 07.03.2012 : 16:41p
9.721 lượt xem - 07.03.2012 : 16:47p
5.705 lượt xem - 17.12.2011 : 14:16p
5.048 lượt xem - 07.03.2012 : 16:44p