9:50 11/06/2012
Cỡ chữ

Thành phố Đà Nẵng bắt tay xây dựng và phát triển các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn đã 19 năm. Việc thực hiện “thử nghiệm” mô hình phát triển kinh tế  được cho là mới mẻ đầu những năm 90 thế kỷ trước đã đến lúc cần được nhìn nhận và đánh giá khách quan để KCN thật sự là nhân tố quan trọng phát huy lợi thế của địa phương, góp phần vào sự nghiệp CNH - HĐH.

Khu công nghiệp Hòa Khánh có diện tích rộng nhất và lịch sử phát triển lâu dài nhất trong số các KCN của TP Đà Nẵng

I. MÔ HÌNH CỔ ĐIỂN

Hiệu quả chưa cao

Không thể phủ nhận kết quả hoạt động của các KCN trên địa bàn thành phố trong 19 năm qua đã góp phần thúc đẩy công nghiệp phát triển, tăng trưởng kinh tế, hình thành các trung tâm công nghiệp, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH, góp phần giải quyết việc làm cho lao động địa phương, đào tạo cán bộ quản lý, công nhân lành nghề, tạo điều kiện để xử lý các tác động tới môi trường một cách tập trung. Phát triển KCN dẫn đến hiệu quả tích cực là hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng và nâng cấp bao gồm hệ thống giao thông trong và ngoài KCN, các hệ thống công trình xã hội. Nhiều công trình hạ tầng được xây dựng và nâng cấp như sân bay, cảng biển, cầu và các trục đường chính từ các KCN đến cảng biển, sân bay để phục vụ cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa...

Mặc dù các nhà quản lý cho rằng Đà Nẵng vẫn ở trong giai đoạn thử nghiệm mô hình phát triển KCN, nhưng đến cuối năm 2011, 6 KCN đã không còn nhiều diện tích đất trống để thu hút doanh nghiệp. Báo cáo của Ban Quản lý các KCN và chế xuất Đà Nẵng cho thấy, 70%  tổng diện tích các KCN đã lấp đầy và Đà Nẵng đang có nhu cầu mở rộng, phát triển thêm KCN. Trong đó, KCN Đà Nẵng đã lấp đầy 100%, KCN Hòa Khánh lấp đầy gần 97%, KCN Hòa Cầm giai đoạn 1 đầy 91%. Có 340 dự án đã đầu tư vào các KCN, giải quyết việc làm cho gần 60 ngàn lao động, trong đó có 263 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư trên 10.500 tỷ đồng và 77 dự án nước ngoài với tổng vốn đầu tư 580 triệu USD. Tuy nhiên, giá trị nộp ngân sách Nhà nước của doanh nghiệp KCN so với giá trị thu ngân sách toàn thành phố Đà Nẵng còn ở mức rất thấp và có xu hướng giảm dần. Năm 2000, các KCN đóng góp gần 119 tỷ đồng, chiếm 7,07% ngân sách thành phố thì đến năm 2010, thu ngân sách các KCN tăng lên 365,6 tỷ đồng nhưng chỉ chiếm tỷ lệ 3,54% thu ngân sách toàn thành phố, trong đó doanh nghiệp đóng góp ngân sách lớn nhất là 100 tỷ đồng.

Khi chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu tình hình phát triển công nghiệp thành phố, hầu như các nhà quản lý đều có chung câu trả lời rằng Đà Nẵng “thiếu máu” làm công nghiệp. Điều này có lẽ chỉ đúng một phần bởi theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1997-2005, thành phố đã tập trung toàn lực để phát triển công nghiệp nhưng kết quả là các KCN chưa có những dự án điểm nổi bật trong bức tranh toàn ngành. Đây cũng là tồn tại chung đối với rất nhiều KCN trong cả nước.

Trở lại với những con số phản ánh kết quả các thu hút đầu tư vào KCN nêu trên, có thể phân tích được phần nào hiệu quả kinh tế. Dự án nhiều nhưng đa số có quy mô đầu tư nhỏ đi đôi với hàm lượng công nghệ thấp, dẫn đến giá trị gia tăng thấp. Hầu như các dự án vào KCN chưa đạt được mục tiêu là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới.

Mỗi KCN một kiểu

Đà Nẵng là một trong những địa phương phát triển mô hình kinh tế KCN sớm nhất của cả nước. KCN Đà Nẵng (Khu chế xuất An Đồn trước đây) được trao giấy phép đầu tư từ năm 1993, chỉ sau KCN Tân Tạo, thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 1997, UBND thành phố Đà Nẵng quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất KCN này cho Công ty Liên doanh Massda. KCN Hòa Khánh được thành lập năm 1998 và KCN Dịch vụ thủy sản Đà Nẵng thành lập năm 2001, do UBND thành phố giao cho Công ty Phát triển và Khai thác hạ tầng KCN Đà Nẵng làm chủ đầu tư. KCN Liên Chiểu cũng được thành lập vào năm 1998, do UBND thành phố đầu tư hạ tầng và đến  năm  2006 giao cho Công ty CP Đầu tư Sài Gòn – Đà Nẵng làm chủ đầu tư theo hướng xã hội hóa. KCN Hòa Cầm phê duyệt đầu tư xây dựng năm 2003 do Công ty Phát triển và Khai thác hạ tầng KCN Đà Nẵng làm chủ đầu tư, từ tháng 4-2008 đến nay giao cho Công ty CP Đầu tư KCN Hòa Cầm làm chủ đầu tư theo hướng xã hội hóa.

Ban Quản lý các KCN và chế xuất Đà Nẵng cho biết, dự kiến KCN Hòa Khương sắp đến sẽ do thành phố làm chủ đầu tư hạ tầng để bảo đảm giá thuê đất rẻ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của thành phố và Khu CNTT  Đà Nẵng sẽ do Công ty Rocky Lai & Associates - Danang, Inc  -  Hoa Kỳ đầu tư hạ tầng.

Đã 19 năm Đà Nẵng theo đuổi mô hình phát triển KCN nhưng xem ra vẫn còn lúng túng trong việc xác định loại hình, nguồn vốn đầu tư hạ tầng, dẫn đến không tuân thủ chuẩn chung về hạ tầng cơ sở, gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước. Mô hình nào được bình chọn là kiểu mẫu? Nên phát huy hình thức liên doanh, xã hội hóa hay duy trì phương thức Nhà nước làm chủ đầu tư? Chủ đầu tư sẽ phải chịu trách nhiệm như thế nào về các sai phạm diễn ra trong KCN liên quan đến kết cấu hạ tầng? Liệu phương thức đầu tư hạ tầng “đại khái” rồi cho thuê có còn phù hợp và hấp dẫn nhà đầu tư?

Bãi nguyên liệu tái chế của Nhà máy Thép Dana-Ý

II. THIẾU ĐỒNG BỘ VỀ ĐẦU TƯ 

Quy hoạch đầu tư phát triển KCN ở thành phố Đà Nẵng trong những năm qua đã  xác lập được quỹ đất, mục đích sử dụng đất; xây dựng cơ sở hạ tầng trong và ngoài các KCN gắn kết với quy hoạch phát triển đô thị. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai quy hoạch và đầu tư phát triển KCN vẫn tồn tại nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, gây ô nhiễm...

Với 6 KCN và 1 khu công nghệ cao được quy hoạch và đầu tư phát triển hạ tầng với tổng diện tích 2.158,49ha, điểm chung của các KCN đã đưa vào khai thác là cơ bản hoàn thành cơ sở hạ tầng về giao thông, cấp điện, nước... KCN Đà Nẵng là KCN đầu tiên  và duy nhất tại thành phố hoàn thiện xây dựng cơ sở hạ tầng giai đoạn 1, bao gồm hệ thống xử lý nước thải tập trung; chỉnh trang cảnh quan, bảo đảm mật độ cây xanh. Quy hoạch ban đầu KCN này là 120ha, sau đó mở rộng 200ha nhưng nay thì điều chỉnh thu gọn lại chỉ còn 50ha.  Đối với KCN Hòa Khánh, ban đầu có diện tích quy hoạch 216,52ha. Sau các lần điều chỉnh, tổng diện tích hiện nay là 212,12ha. KCN này đã đầu tư nhà máy xử lý nước thải tập trung có công suất 5.000m3/ngày đêm, đưa vào sử dụng năm 2007. KCN Liên Chiểu xây dựng hoàn thành 100% hệ thống thu gom nước thải đi qua các doanh nghiệp trong KCN. KCN Dịch vụ thủy sản Đà Nẵng có diện tích quy hoạch giai đoạn 1 là 43,34ha, giai đoạn 2 là 33,96ha. Tuy nhiên năm 2006, UBND thành phố có quyết định điều chỉnh tổng mặt bằng quy hoạch của KCN này và diện tích quy hoạch sau điều chỉnh là 57,99ha.  KCN Hòa Cầm được quy hoạch 2 giai đoạn với diện tích 137ha. Đối với KCN Công nghệ cao được lập quy hoạch 1.010ha,  đã qua vài lần điều chỉnh và thành phố đang triển khai quy hoạch.

Ban Quản lý các KCN và chế xuất Đà Nẵng cho biết thực trạng của việc cụ thể hóa các đồ án quy hoạch luôn có tình trạng chồng lấn, thay đổi quy hoạch nhiều lần của KCN, đã ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư cũng như việc khớp nối các hạng mục công trình hạ tầng KCN. Chủ trương xã hội hóa trong đầu tư khai thác hạ tầng một số KCN không thực hiện ngay từ đầu mà chuyển đổi giữa chừng đã dẫn đến khó khăn cho việc chuẩn bị kế hoạch tài chính và chuyển kinh phí thực hiện dự án của các đơn vị là chủ đầu tư. Khó khăn lớn trong quá trình quy hoạch và xây dựng KCN là công tác giải phóng mặt bằng, đền bù và bố trí tái định cư cho các hộ dân, đơn vị thuộc phạm vi quy hoạch KCN. Những khó khăn này đã dẫn đến tình trạng không có mặt bằng để thi công, kéo dài tiến độ, quá trình đầu tư xây dựng công trình bị manh mún, làm tăng chi phí đầu tư các hạng mục. Việc triển khai quy hoạch phần lớn không đồng bộ, nhất là quy hoạch để bảo vệ môi trường; tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng chậm... Công tác xây dựng và phát triển KCN chỉ tập trung vào xây dựng hạ tầng kỹ thuật thu hút đầu tư, giải quyết việc làm mà chưa quan tâm đến hạ tầng xã hội như thiết chế văn hóa phục vụ đời sống sinh hoạt của người lao động trong KCN, đặc biệt là các công trình phúc lợi xã hội.

Các KCN là nơi thành phố quy hoạch và di dời những xí nghiệp, nhà máy lâu nay nằm xen lẫn trong khu dân cư gây ô nhiễm môi trường, góp phần thực hiện tốt công tác chỉnh trang đô thị, giải quyết được tình trạng ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông trong nội thành. Nhưng đáng tiếc, các KCN hiện tại lại đang “gom” ô nhiễm môi trường, gây bức xúc cho cộng đồng dân cư sinh sống gần KCN. Sự khớp nối thiếu đồng bộ do điều chỉnh quy hoạch và quy mô KCN đã làm vô hiệu hóa một số hệ thống xử lý nước thải. Ví dụ như KCN Dịch vụ thủy sản Đà Nẵng có 15 danh nghiệp (DN) đang hoạt động, mức sử dụng nước thực tế từ 3.500 - 7.000m3/ngày đêm, trong khi đó trạm xử lý nước thải tập trung chỉ có công suất 2.000m3/ngày đêm, công nghệ lại lạc hậu, thường xuyên hỏng hóc gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tương tự, việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải tại các KCN Hòa Khánh, Liên Chiểu, Hòa Cầm vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu.

Lĩnh vực dịch vụ vẫn được các DN xem là điểm yếu nhất của hệ thống đầu tư hạ tầng các KCN hiện nay. Nhiều DN đang đầu tư tại KCN Hòa Khánh nhìn nhận, cả mảng dịch vụ cho DN lẫn dịch vụ cho người lao động đều đang rất trống trải. DN nào cũng phàn nàn là hạn chế về phương tiện công cộng, nhà ở, dịch vụ y tế cộng đồng, hoạt động thương mại tại chỗ giúp công nhân thuận tiện trong sinh hoạt đời sống...

Thực tiễn thời gian qua, các KCN mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp chỗ cho nhà đầu tư xây dựng nhà máy, thay vì phải tạo được các KCN liên hoàn theo hướng phân công sản xuất. Điều này khiến mối liên kết của các DN trong một KCN vốn là yếu tố tạo nên sự phát triển bền vững cho KCN rất yếu. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến các nhà đầu tư trong và nước ngoài ngần ngại vào các KCN.

III. LOAY HOAY CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ 

Lời giải cho bài toán giảm nhập siêu của Việt Nam nằm ở khả năng tìm ra cách thức để tăng cường năng lực của ngành công nghiệp nội địa nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Từ đây, định hướng phát triển công nghiệp phụ trợ đã hình thành như một nhu cầu ưu tiên hàng đầu để phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư nước ngoài. Đà Nẵng cũng tập trung kêu gọi đầu tư vào ngành này, dự kiến vào KCN Hòa Khương, nhưng cụ thể là công nghiệp phụ trợ gì thì vẫn còn loay hoay.

Dệt may là một sản phẩm công nghiệp chủ lực nhưng hầu như không có công nghiệp phụ trợ tại chỗ

Chưa sẵn sàng

Ngay trong những tháng đầu năm 2012, mặc dù tình hình kinh tế thế giới hết sức khó khăn nhưng công nghiệp một số địa phương Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai vẫn “nóng” lên bởi dòng vốn FDI liên tục đổ vào ngành công nghiệp điện tử mỗi dự án từ vài trăm triệu đến cả tỷ USD. Sự đột phá trong thu hút đầu tư FDI của các địa phương này đã làm cho những người làm công tác xúc tiến đầu tư của Đà Nẵng phải trăn trở. Ông Lâm Quang Minh, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư Đà Nẵng, cho rằng dòng vốn của Nhật Bản có xu hướng ra khỏi Trung Quốc nhưng lựa chọn những địa phương gần các Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc hoặc phía Nam. Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận một xu hướng chung, không chỉ Đà Nẵng mà các địa phương trong cả nước cũng bắt đầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm thiểu các ngành công nghiệp thâm dụng lao động để tập trung phát triển các ngành công nghiệp có khả năng hỗ trợ cho ngành cơ khí chế tạo, điện tử và công nghiệp công nghệ cao, bởi các ngành này phát triển sẽ tạo ra nhiều việc làm có chất lượng hơn và dần thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia.

Ông Thái Bá Cảnh, Trưởng Ban quản lý các KCN và Chế xuất Đà Nẵng, cho biết theo suy nghĩ của ông, thành phố định hướng không phát triển mở rộng các ngành công nghiệp bình thường mà ưu tiên cho công nghiệp phụ trợ phục vụ công nghệ cao, lắp ráp ô-tô, khuôn đúc, khuôn mẫu, may mặc, bao bì. Còn theo Sở Công thương, ngoài 5 sản phẩm công nghiệp chủ lực là giày da, thủy sản đông lạnh, may mặc, xi-măng, cao su thì thành phố vẫn chưa có văn bản nào quy định rõ các ngành công nghiệp phụ trợ gì cần phát triển mà chỉ đặt ra mục tiêu nhanh chóng hình thành và có chính sách khuyến khích phát triển mạnh công nghiệp phụ trợ. Nếu có dự án liên quan đến công nghiệp phụ trợ, nhà đầu tư nước ngoài được chỉ đến KCN Hòa Khương còn nằm trên giấy. Sự mơ hồ và chưa sẵn sàng đón công nghiệp phụ trợ của Đà Nẵng được giải thích với lý do chỉ đầu tư hạ tầng theo phương thức cuốn chiếu để không lãng phí nguồn lực đầu tư.

Lúng túng

Theo nhìn nhận thực tế, Đà Nẵng cũng đang bước vào cuộc chạy đua cùng với nhiều địa phương trong cả nước và khu vực ASEAN về phát triển ngành công nghiệp phụ trợ. Thế nhưng ngay cả những nhà quản lý trong cuộc cũng chỉ mới khái niệm rất đơn giản về lĩnh vực công nghiệp phụ trợ như may mặc, giày da, lắp ráp ô-tô, khuôn đúc… Còn các chính sách và thực tiễn xúc tiến đầu tư vào công nghiệp phụ trợ như thế nào vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ. Chưa có nghiên cứu hay khảo sát nào từ thành phố cho thấy Đà Nẵng cần phải xúc tiến đầu tư vào đâu thì mới kết nối được các doanh nghiệp của nước ngoài với doanh nghiệp của Việt Nam để  tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cung cấp linh kiện phụ tùng cho các doanh nghiệp lắp ráp trong nước, mà còn có thể tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu. Đơn giản như ngành dệt-may tạo ra sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Đà Nẵng hàng chục năm nay nhưng vẫn không có chính sách cụ thể khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ. Kết quả hiện nay, nguyên liệu vải, phụ kiện may đều phải nhập khẩu gần 80%, chỉ có khoảng 5% được cung ứng từ thành phố Đà Nẵng, số còn lại được mua từ các vùng khác trong nước. Một số dự án đầu tư nước ngoài đăng ký thuê đất tại KCN Đà Nẵng đã thực hiện việc cho thuê đất đối với một số cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu hoặc gia công ngay bên cạnh khuôn viên nhà máy của mình.

Khó thu hút FDI

Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, công nghiệp phụ trợ là nội dung quan trọng để phát triển nền công nghiệp hiện đại. Công nghiệp phụ trợ yếu kém, không chỉ giá trị gia tăng xuất khẩu thấp mà hàng loạt doanh nghiệp FDI cũng dần rút vốn đầu tư, chuyển đến sản xuất ở những nước có ngành công nghiệp phụ trợ tốt hơn vì không tiếp cận được nguồn cung tại chỗ theo lộ trình giảm thuế trong khuôn khổ hợp tác mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc.

Nhiều người cho  rằng các KCN của Đà Nẵng đã gần lấp đầy và Đà Nẵng không còn “khát FDI” như những năm trước đây nữa vì quỹ đất không còn nhiều. Nhưng thực tế công nghiệp phụ trợ cho các ngành cơ khí chế tạo, điện tử, công nghiệp công nghệ cao có lẽ là ngành đã và đang đòi hỏi vốn FDI lớn nhất. Không có công nghiệp phụ trợ đón đầu thì Đà Nẵng sẽ khó hình thành, cạnh tranh và phát triển các ngành kinh tế chủ chốt, mũi nhọn trong tương lai.

IV. TÁI CẤU TRÚC ĐỂ PHÁT TRIỂN

Thực trạng xây dựng và phát triển các KCN trên địa bàn thành phố trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế ảnh hưởng đến kinh tế-xã hội địa phương. Tái cấu trúc KCN để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động các doanh nghiệp trong các KCN đang là thực tế đòi hỏi khách quan đối với cả nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và chính quyền địa phương để phục vụ tốt hơn mục tiêu tăng trưởng. Dưới đây là một số giải pháp đề xuất từ các công trình nghiên cứu về phát triển KCN tại Đà Nẵng, ý kiến của nhà quản lý các KCN Đà Nẵng và chuyên gia nước ngoài về nội dung này.

* PGS - TS Nguyễn Thế Tràm (Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III) kết luận qua nghiên cứu việc phát triển khu kinh tế, KCN tổng thể khu vực duyên hải miền Trung:

Các khu kinh tế, KCN phát triển chậm, thiếu tính bền vững; cơ chế quản lý KCN chưa được đổi mới theo hướng hiệu quả, năng lực quản lý hạn chế; hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển KCN đạt thấp; vấn đề bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức và đời sống người lao động tại KCN chưa được cải thiện dẫn đến nguồn lao động luôn xáo trộn, thời vụ. Việc cần làm ngay là tổ chức lại việc quản lý ở khu kinh tế, KCN; tái cơ cấu vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật; tăng cường sự gắn kết giữa các DN trong KCN để tạo sự liên kết trong sản xuất, sử dụng sản phẩm của nhau để gia tăng nguồn lực sản xuất, tạo sản phẩm chủ lực và đa dạng... đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tại chỗ và xuất khẩu.

* Nhóm nghiên cứu gồm TS Ngô Hà Tấn và TS Đào Hữu Hòa (Trường ĐH Kinh tế, ĐH Đà Nẵng) đánh giá và kiến nghị khi nghiên cứu chính sách phát triển các KCN (Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ):

Thực trạng phát triển các KCN ở Đà Nẵng cũng giống với các KCN của cả nước và khu vực. Các tỉnh, thành đều ào ạt quy hoạch, phát triển KCN, xác lập các quy định riêng về cơ chế chính sách thu hút đầu tư ngắn hạn đã dẫn đến tình trạng cạnh tranh trong thu hút đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài; phân tán nguồn lực phát triển. Các địa phương đều phát triển KCN làm mất tính liên kết phát triển nên các KCN thu hút đầu tư còn mang tính dàn trải, chưa có trọng tâm theo một hướng chiến lược cụ thể để hỗ trợ qua lại lẫn nhau trong mối liên kết kinh tế ở ngay tại một KCN và các KCN phụ cận khác. Về chính sách phát triển KCN, cần đổi mới công tác quy hoạch KCN, Nhà nước phải có quy hoạch phát triển KCN chung và ban hành quy định khung về chính sách thu hút đầu tư theo vùng miền. Riêng thành phố Đà Nẵng tập trung phát triển công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ chất lượng cao.

* Ông Phạm Việt Hùng, Giám đốc Sở Xây dựng, nguyên Trưởng Ban quản lý Các KCN và CX Đà Nẵng:

Theo Quyết định số 3983/QĐ-UBND ngày 27-5-2010 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc ban hành Quy chế phối hợp quản lý Nhà nước đối với các KCN trên địa bàn thành phố thì Ban quản lý Các KCN và CX Đà Nẵng là cơ quan đầu mối phối hợp quản lý Nhà nước tất cả các hoạt động diễn ra trong các KCN. Nhưng thực tế cơ quan quản lý Nhà nước mà không có thẩm quyền thanh tra, không đủ nhân lực, vật lực để kiểm tra thì sẽ không thể phát hiện sai phạm để kịp thời chấn chỉnh, xử lý. Sự thiếu chặt chẽ và không rõ ràng trong việc phân công nhiệm vụ của Ban quản lý và các ngành chức năng liên quan trong quy chế phối hợp đã tạo ra lỗ hổng trong công tác quản lý Nhà nước đối với sai phạm gây ô nhiễm môi trường của một số doanh nghiệp trong KCN. Phòng Tài nguyên-Môi trường các quận, huyện cũng chỉ có quyền phối hợp kiểm tra các chỉ tiêu gián tiếp về hệ thống xả thải, tiêu chuẩn vận hành hệ thống xử lý nước thải và trước khi kiểm tra phải có thông báo cho doanh nghiệp bằng văn bản nên doanh nghiệp đã sẵn sàng đối phó với đoàn kiểm tra.

* Ông  Hirokazu Yamaoka, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Hà Nội:

Đã qua rồi thời kỳ các địa phương chỉ thu hút FDI bằng cơ chế ưu đãi về giá thuê đất, giảm, hoãn thuế thu nhập doanh nghiệp (DN). Các DN FDI bây giờ đòi hỏi về cơ sở hạ tầng, các chính sách phát triển và nuôi dưỡng các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước và doanh nghiệp FDI để làm mạnh công nghiệp sản xuất. Khi Việt Nam làm tốt các khâu này thì hoàn toàn có quyền đòi hỏi về chất lượng đồng vốn, công nghệ đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư chất lượng.

 Tại Đà Nẵng có 50 công ty của Nhật Bản. Hầu hết họ đều đánh giá Đà Nẵng đẹp và có môi trường sạch. Tuy nhiên, để làm ăn thì họ mong muốn có một môi trường tốt hơn, bởi vì Đà Nẵng hiện nay thiếu công nghiệp phụ trợ và phương tiện vận chuyển, thiếu đội ngũ công nhân chất lượng cao và thiếu những công viên công nghiệp với đầy đủ hạ tầng, nhà xưởng cho thuê và đô thị xung quanh. Hy vọng khu công nghệ cao của Đà Nẵng sẽ sớm phát triển và các cơ quan xúc tiến đầu tư sẽ tiếp tục là địa chỉ đáng tin cậy cho các nhà đầu tư Nhật Bản.

 

                                                                                                                                                                                    H.X.K

(Tổng hợp từ báo Đà Nẵng)

Đánh giá
Đánh giá của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên
(*)
Thư điện tử
(*)
Tiêu đề
Nội dung
(*)
Cùng chuyên mục
2.533 lượt xem - 31.05.2012 : 16:26p
2.400 lượt xem - 26.03.2012 : 14:16p
Tin đọc nhiều
10.053 lượt xem - 07.03.2012 : 16:41p
9.883 lượt xem - 07.03.2012 : 16:47p
6.408 lượt xem - 17.12.2011 : 14:16p
5.177 lượt xem - 07.03.2012 : 16:44p